Thưa Bà, Chuyện Đó Can Gì Đến Tôi?

Đức Maria Suy Niệm

THƯA BÀ, CHUYỆN ĐÓ CAN GÌ ĐẾN TÔI? KENOSIS CỦA MẸ THIÊN CHÚA

 

Trong loạt bài suy niệm này, chúng ta lại tiếp tục chuyến hành trình theo chân Đức Mẹ để rồi mỗi người đặt mình vào sự bảo vệ của Đức Maria, trong thời gian dịch bệnh Corona Virus đang hoành hành khốc liệt này.

Chúng ta phải thừa nhận rằng, Tân Ước không nói nhiều cho chúng ta về Đức Maria, hay ít là cũng không nhiều như chúng ta mong đợi, để có thể dựa vào mà suy nghĩ về lòng đạo đức bình dân đối với Mẹ Thiên Chúa đã được hình thành trong Giáo Hội. Tuy nhiên, nếu chú ý một chút, chúng ta sẽ thấy Đức Maria không bao giờ vắng mặt trong ba thời khắc quan trọng nhất cấu thành nên mầu nhiệm cứu độ. Thực ra, đó cũng là ba giai đoạn đặc biệt đã hình thành nên màu nhiệm cứu độ cao quý: Mầu nhiệm nhập thể của Lời, mầu nhiệm vượt qua, và Chúa Thánh Thần hiện xuống (lễ ngũ tuần).

Đức Maria đã hiện diện trong tất cả những biến cố nền tảng đó. Chắc chắn, Mẹ đã hiện diện trong nhập thể, điều đã được thực hiện ngay trong cung lòng Mẹ. Mẹ cũng hiện diện trong mầu nhiệm vượt qua, bởi vì Mẹ đã đứng dưới chân thập giá của Đức Giêsu (x. Ga 19,25). Cuối cùng, Mẹ đã hiện diện vào lễ Ngũ Tuần, vì: Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su (x. Cv 1,14). Sự hiện diện của Đức Maria trong những giờ khắc cốt yếu đó của ơn cứu độ chúng ta không thể đơn thuần chỉ là một sự tình cờ. Nhưng là sự cam đoan rằng Mẹ đã ở bên cạnh Đức Giêsu trong công cuộc cứu độ. Mẹ đã là người duy nhất của nhân loại làm chứng và tham gia vào cả ba biến cố đó.

Trong phần tiếp theo của bài suy niệm này, chúng ta hãy để mình theo sau Đức Maria trong mầu nhiệm vượt qua và để Mẹ hướng dẫn chúng ta hiểu biết và tham gia nhiều hơn nữa trong những đau khổ của Đức Kitô. Có thể, Đức Maria sẽ cầm tay và khuyến khích chúng ta theo Mẹ trên những nẻo đường dài mà Mẹ đã kể cho chúng ta, như gà mẹ ủ ấp con dưới cánh, “chúng ta hãy đi, để cùng chịu chết với Người” (Ga 11,16). Trong Tin Mừng, những lời đó được thốt ra bởi Tôma, nhưng Đức Maria đã sống những điều đó.

  1. Mẹ đã học vâng phục từ những đau khổ của mình.

Trong cuộc đời Đức Giêsu, Mầu nhiệm vượt qua đã không bắt đầu khi Người bị bắt trong vườn, hay trong suốt thời gian Tuần Thánh. Toàn bộ cuộc đời của Người, từ giây phút mà Gioan Tẩy giả chào Người với tước hiệu là Chiên Thiên Chúa thì lúc đó đã là chuẩn bị cho sự Vượt Qua. Theo Tin Mừng Luca, cuộc đời công khai của Đức Giêsu là một chuyến hành trình từng bước, từng bước tiến về Giêrusalem, nơi mà người sẽ hoàn thành cuộc “xuất hành” (exodus) của mình, nhưng cuộc xuất hành đó cũng là lý do cho việc khởi đầu cuộc sống của Người (x. Lc 9,31).

Song song với hành trình vâng phục của Adam Mới, thì một hành trình của Eva Mới cũng được hình thành. Đối với Đức Mẹ cũng thế, Mầu nhiệm vượt qua đã khởi đầu rất sớm trước đó. Những lời của ông Simeon về sự chống đối và về thanh gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà đã thực sự được linh cảm, điều đó Mẹ đã giữ lại trong lòng cùng với tất cả những lời khác. Mục đích của việc chiêm ngắm sự hiện diện của Đức Maria là để chúng ta theo chân Mẹ trong suốt cuộc đời công khai của Đức Giêsu và để xem Mẹ như là khuôn mẫu cho chúng ta trong thời đại này.

Những điều gì thường xảy ra khi một tâm hồn được gọi là thánh thiện và tràn đầy ân sủng? Những điều gì xảy ra khi một tâm hồn rộng lượng nói xin vâng trong đức tin và đã sẵn lòng bắt đầu làm những việc tốt và thực tập nhân đức? Một thời kỳ của sự thanh luyện và mất mát theo sau. Đêm tối của đức tin ập đến. Và chúng ta sẽ thấy điều đó trong cuộc đời Mẹ. Vì thế, Mẹ trở thành khuôn mẫu và người hướng dẫn tỉ mỉ cho chúng ta về cách hành xử trong những “thời gian thanh luyện” của đời sống.

Trong Thông Điệp “Mẹ Đấng Cứu Chuộc”, được viết cho năm Thánh Mẫu, đức Thánh Cha, Gioan Phaolô II, đã áp dụng đúng đắn cho cuộc đời của Đức Maria theo nghĩa rộng của phạm trù tự hủy (kenosis), với điều Thánh Phaolô đã giải thích sự kiện dương thế của Đức Giêsu: “Đức Giê-su Ki-tô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì, địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ [ekenosen] vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (x. Pl 2,6-7). Đức Giáo Hoàng đã viết, “Nhờ đức tin, Đức Maria đã hoàn toàn nên một với Đức Kitô trong việc tự hủy của Người (self-emptying)… ở dưới chân Thánh Giá, Đức Maria chia sẻ nhờ vào niềm tin trong việc đụng chạm đến Mầu nhiệm của sự tự hủy này.” Sự tự hủy này đã được hoàn thành ở chân thập giá, nhưng nó lại bắt đầu sớm hơn nhiều. Thậm chí tại Nazareth và cách đặc biệt trong suốt cuộc đời công khai của Đức Giêsu, Mẹ đã tiệm tiến dần lên trong hành trình đức tin của mình. Dù vậy, rõ ràng là Mẹ đã phải trải qua “sự đau buồn của tâm hồn một cách đặc biệt, đã nối kết cách nào đó với đêm tối đức tin” (the particular heaviness of heart, linked with a sort of night of faith).

Các giải thích về những biến cố liên quan đến Đức Maria đều mang lại ý nghĩa lạ thường cho chúng ta; điều đó khôi phục lại vai trò của Đức Maria cho Giáo Hội và cho nhân loại. Chúng ta phải vui mừng ghi nhận đã có một thay đổi lớn trong việc sùng kính Đức Maria, một việc mà chúng ta khó lòng nhận thức cách đầy đủ vì chúng ta đang sống trong thời kỳ kéo dài của công đồng Vaticano II. Trước Công Đồng, các phạm trù nền tảng về sự tuyệt vời của Đức Maria đều đã được giải thích là những đặc quyền hoặc sự miễn trừ.

Nghĩa là Mẹ được miễn trừ không chỉ là tội nguyên tổ và sự hư hoại (đặc ân mà Giáo Hội đã khẳng định trong tín điều về Vô Nhiễm Nguyên Tội và “Hồn Xác Lên Trời”), thậm chí người ta còn tin rằng Đức Maria cũng được miễn cho khỏi sự đau đớn của lúc sinh con, khỏi sự mệt mỏi, sự nghi ngờ, cám dỗ, vô tri và (còn tệ hơn nữa) thậm chí là khỏi sự chết. Trong thực tế, một số người đã tin rằng Đức Maria không chết trước khi được đưa lên trời.

Tất cả những điều trên, được xem là hợp lý vì bị ảnh hưởng bởi tội lỗi, nhưng Đức Maria lại vô tội. Họ đã không nhận ra rằng thay vì liên kết Mẹ với Đức Giêsu, họ lại hoàn toàn tách Mẹ ra khỏi Người, Đấng mặc dù là vô tội, lại muốn trải qua tất cả những điều đó: sự mệt mỏi, sự thất vọng, đau khổ, cám dỗ, và đã chết vì chúng ta. Tất cả những điều này được phản ánh trong nghệ thuật ảnh thánh nơi Mẹ Diễm Phúc (Blessed Mother), trong cách Mẹ được miêu tả qua các bức tượng, bích hoạ, chân dung…, cách chung như là siêu vượt (đánh mất đi sự nhập thể – disincarnate) hay là một thụ tạo lý tưởng của vẻ đẹp, điều đó thường chỉ hoàn toàn là con người mà bất kỳ người phụ nữ nào cũng muốn được vậy. Vắn tắt, một người mà dường như đầu ngón chân chỉ vừa chạm đất.

Ngày nay, từ khi Công Đồng Vaticano II, chúng ta không còn cố gắng giải thích sự thánh thiện đặc biệt của Đức Maria quá thiên về đặc quyền, nhưng là đức tin. Đức Maria “tiến bước trên hành trình đức tin của mình” (advanced in her pilgrimage of faith). Điều này không làm giảm bớt đi sự tuyệt vời của Mẹ, hơn thế nữa, còn làm gia tăng đến nỗi vượt ra ngoài mọi khuôn thước. Trước mặt Thiên Chúa, một con người với tâm hồn cao quý trong cuộc sống này thì không được đo lường bởi những gì Thiên Chúa ban cho, nhưng bởi những gì Thiên Chúa đã nói với người đó. Và chúng ta đã thấy, Thiên Chúa nói rất nhiều với Đức Maria, nhiều hơn bất kỳ ai khác, thậm chí còn nhiều hơn cả Abraham.

Trong Tân Ước có những lời tuyên bố mạnh mẽ về Đức Giêsu. Một trong những lời đó nói rằng: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4,15). Một lời tuyên bố khác nói với chúng ta rằng: “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). Nếu Đức Maria đã sống theo Đức Giêsu trong mầu nhiệm tự hủy của Người, thì khi áp dụng cho Mẹ những điều bên trên cũng cần một chút các phân tích hợp lý, và chúng sẽ trở thành chìa khóa để hiểu cuộc đời mẹ. Cho dẫu là người mẹ, Đức Maria cũng phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.

Phải chăng Đức Giêsu đã không đủ vâng phục khi còn nhỏ hoặc đã không biết thế nào là vâng phục, để rồi Người phải học nó nhờ những đau khổ sau này Người trải qua? Không, “việc học” trong bối cảnh này là điều mà Kinh Thánh gọi cách chung chung là “biết”, điều đó có nghĩa là sống ý nghĩa của “kinh nghiệm” hay “thưởng nếm”. Đức Giêsu đã thực hành sự vâng phục và đã lớn lên trong đó vì những đau khổ Người trải qua. Tinh thần vâng phục lớn hơn bao giờ hết là điều cần thiết để vượt qua những thử thách cam go kinh khủng, và tột đỉnh là cái chết.

Đức Maria cũng vậy, đã học sự vâng phục và đức tin; Mẹ đã lớn lên trong cả hai điều đó nhờ những đau khổ mà Mẹ trải qua, để cùng với tất cả sự tin tưởng chúng ta có thể nói về Mẹ rằng: chúng ta có một người Mẹ có thể cảm thông với những nỗi yếu hèn, sự mệt mỏi và những thử thách của chúng ta, đấng đã chịu thử thách như chúng ta, nhưng ngoại trừ tội lỗi.

  1. Đức Maria trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu.

Trong Tin Mừng có nhiều điểm quy chiếu về Đức Maria. Trong quá khứ, khi mà ý tưởng đặc quyền còn chiếm lĩnh, đã làm cho người kitô hữu cảm giác bất an; và bây giờ khi đã được thay thế, dường như chỉ còn là những cột mốc trong hành trình đức tin của Đức Maria. Do đó, chúng ta chẳng còn lý do gì để mà dửng dưng hay bình thản đối với những giải thích thỏa đáng.

Chúng ta hãy bắt đầu với việc Đức Giêsu bị lạc ở Đền Thờ (x. Lc 2,44tt). Đó là điểm bắt đầu của mầu nhiệm vượt qua của việc tước quyền đối với Mẹ. Thực ra, Đức Giêsu đã nói điều gì với Mẹ khi họ tìm thấy Người? “Sao Cha Mẹ lại tìm Con? Cha Mẹ không biết là Con có bổn phận ở nhà của Cha Con sao?” (c 49). “Sao Cha Mẹ lại tìm Con?”- những lời này đã lộ ra một ý muốn khác biệt giữa Đức Giêsu và Mẹ Maria, một ý muốn quan trọng hơn vạn lần, đang làm cho các tương quan khác trở thành thứ yếu, thậm chí kể cả sự hiếu thảo với Mẹ Người.

Sau đó, Đức Maria được nhắc đến ở tiệc cưới Cana miền Galilê ngay khi bắt đầu cuộc đời công khai của Đức Giêsu. Chúng ta biết những điều đó. Người đã trả lời Mẹ mình ra sao khi mà Đức Maria kín đáo và dè dặt xin người can thiệp? “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” Bất kể chúng ta cố gắng giải thích cách nào đi nữa, tự những lời đó vẫn là những lời khắc nghiệt và mất thể diện. Một lần nữa chúng có vẻ như làm gia tăng khoảng cách giữa Đức Giêsu và Mẹ Người.

Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều thuật lại đoạn tiếp theo này, điều đã diễn ra trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu. Một ngày kia, khi Đức Giêsu đang giảng dạy, Mẹ Người và anh em Người đến để nói chuyện với Người. Cũng giống như các bà mẹ khác, Mẹ Người có lẽ đã lo lắng về sức khỏe của Người, bởi vì trước đó vài câu ghi rằng Người đã không ăn gì bởi vì đám đông (x. Mc 3,20). Một chi tiết nhỏ để lưu ý: Đức Maria, Mẹ Người, đã không xin cho được quyền để gặp Người và trò chuyện với Người. Mẹ đã không giành lấy lợi thế trong vai trò là Mẹ Người để áp đặt cách thức của mình lên đám đông dân chúng. Vì thế, Mẹ vẫn tiếp tục đứng ở bên ngoài, và đã có những người khác đến với Đức Giêsu và nói, “Mẹ và anh em Người đang ở ngoài xin gặp Người.” Nhưng ở đây cũng vậy, có một điều quan trọng là Đức Giêsu đã nói điều gì: “Ai là mẹ ta và anh em ta.” (x. Mc 3,33).

Chúng ta đã biết điều gì Người sẽ nói sau đó. Chúng ta hãy đặt mình dưới chân Mẹ, và chúng ta sẽ có thể cảm nhận được nỗi xấu hổ và sự đau khổ mà những lời đó gây ra cho Mẹ. Bây giờ chúng ta biết rằng những lời đó là ca ngợi hơn là trách móc dành cho Mẹ của Người, nhưng Mẹ đã không biết điều đó, hay ít nhất, Mẹ đã không biết ngay lúc đó. Đối với Mẹ chúng chỉ mang lại sự cay đắng của việc từ chối. Không có một đề cập nào về việc Đức Giêsu ra ngoài và nói chuyện với Mẹ. Có vẻ không thích hợp chút nào khi Đức Maria đã đi nơi khác mà không nhìn thấy con mình hay không nói chuyện với Người.

Một ngày khác, Thánh Luca thuật lại, có một phụ nữ trong đám đông dân chúng bộc phát cất tiếng lên với đầy sự nhiệt tình về phía Đức Giêsu, “Phúc thay dạ đã cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú mớm!” Lời khen ngợi này cũng đủ để làm cho bất kỳ người mẹ nào cảm thấy hạnh phúc, nhưng Đức Maria, nếu người có ở đó hoặc đã đến để nghe, cũng sẽ không đủ chăm chú lâu vào những lời đó để hưởng nếm, bởi vì Đức Giêsu đã vội vàng đính chính người phụ nữ đó và nói rằng: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa!” (x. Lc 11,27-28).

Chúng ta cùng đến với minh họa cuối cùng. Ở một nơi nào đó trong Tin Mừng của mình, Thánh Luca nhắc đến những người phụ nữ đi theo Đức Giêsu, và người gọi họ là mấy phụ nữ tốt lành, các bà đã được người chúc lành, các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ. (x. Lc 8,2-3), đây là điều đáng nói, các bà chăm sóc cho Người và các môn đệ những của cải vật chất cần thiết, chuẩn bị thức ăn cho họ, giặt giũ hay khâu vá quần áo cho họ. Đức Maria đã liên quan đến những việc đó ra sao? Mẹ không được nhắc đến giữa các người phụ nữ đó, và chúng ta đều biết một người mẹ mong mỏi thực hiện những điều nhỏ nhặt đó cho con mình nhiều như thế nào, đặc biệt là Người đã được hiến dâng cho Thiên Chúa. Điều đó cũng là sự hy sinh hoàn toàn cõi lòng của Mẹ.

Tất cả những điều đó có ý nghĩa gì? Một chuỗi những sự kiện và lời nói mạch lạc, chính xác, thì không thể đơn thuần chỉ là sự trùng hợp tình cờ. Hơn nữa, Đức Maria đã trải qua sự tự hủy của mình. Sự tự hủy của Đức Giêsu cốt ở điều này: thay vì khẳng định quyền lợi và đặc quyền thần linh của mình, Người đã trút bỏ chính mình, trở nên một người tôi đòi và xuất hiện trước mọi người trong tư cách là một người như bao con người khác. Sự tự hủy của Đức Maria cũng hệ tại ở điều này là: thay vì khẳng định những quyền của mình là Mẹ Đấng Messia, Mẹ cũng để mình bị tước bỏ và xuất hiện trước mọi người như là một người phụ nữ như bao phụ nữ khác.

Thực ra, Đức Kitô là Con Thiên Chúa cũng không được miễn trừ cho khỏi mọi sự sỉ nhục, và Đức Maria cũng thế, tuy là Mẹ Thiên Chúa nhưng cũng không miễn khỏi mọi sự sỉ nhục. Đức Giêsu đã phán một Lời là Lời mà Thiên Chúa sử dụng để cắt tỉa và tẩy trừ nhành lá: “Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em” (x. Ga 15,3), và đó là cách thức Người dùng để “cắt tỉa” (prune) Mẹ của mình. Liệu đó có phải là “thanh gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà”, như lời của Simeon đã tiên đoán?

Tình mẫu hệ thiêng liêng của Đức Maria cũng là một kinh nghiệm nhân linh; đó là một khía cạnh của xác thịt mà trong đó một cảm nghiệm sâu sắc về Ngôi Lời, là con của Mẹ, là kho báu duy nhất và là nguồn trợ lực duy nhất trong đời Mẹ. Nhưng Mẹ đã từ bỏ tất cả, đó là một điều thú vị hết sức là người trong ơn gọi của Mẹ. Tự Con của Mẹ đã nhìn thấy rằng Mẹ không được lợi ích trần thế nào từ tình mẫu tử của mình. Mặc dù là Mẹ của Đức Giêsu, Mẹ đã đi theo Người nhưng lại như không hề có ở đó. Một khi bắt đầu sứ vụ của mình, Đức Giêsu đã không có nơi tựa đầu, và Đức Maria cũng không có nơi nào để tựa tâm hồn.

Đức Maria không những nghèo về phương diện vật chất mà còn rất rất nghèo về phương diện tinh thần. Sự nghèo khó về phương diện tinh thần hệ tại ở việc chấp nhận sự từ bỏ hoàn toàn mọi ưu quyền, trong việc không còn có thể tính toán bất kỳ điều gì, không quá khứ, không tương lai, không lời mạc khải, không một lời hứa, như thể không phải là công việc của Mẹ và không hề có chuyện gì xảy ra. Đây là một loại của “đêm tối ký ức” (dark night of the memory). Nó hệ tại trong việc quên đi bản thân mình – hoặc là, hơn thế nữa, trong việc không thể gợi lại chút gì của quá khứ, cho dẫu đã cố gắng nhiều –, trong việc quy hướng về Thiên Chúa, và trong việc sống niềm hy vọng tinh tuyền. Điều này mới thực sự là đúng đắn và căn bản của một tinh thần khó nghèo, sự giàu có chỉ trong Thiên Chúa và thậm chí là giàu có chỉ trong niềm hy vọng.

Đối với Mẹ của Người, Đức Giêsu đã cư xử như là một vị linh hướng sáng suốt và đòi hỏi cao, Người đã cảm thấy mình đang đối xử với một tâm hồn ngoại lệ, không cho phép tâm hồn lãng phí thời gian hoặc sống trong một tình trạng thấp kém ở giữa những tình cảm tự nhiên và những sự an ủi. Nếu bản thân Người là thánh, thì Người cố gắng mang tâm hồn đó khỏi sự thư thái để hướng về sự từ bỏ hoàn toàn trong cùng tâm tình với Thiên Chúa. Đức Giêsu đã dạy Đức Maria sự từ khước bản thân (self-denial). Đức Giêsu hướng dẫn tất cả những ai theo Người trong mọi thế kỷ qua Tin Mừng, nhưng Người đã hướng dẫn mẹ của mình cách cá vị và ngôn từ.

Một mặt, Người để bản thân mình trong sự hướng dẫn của Chúa Cha bằng các cách thức của Chúa Thánh Thần bất kỳ nơi nào Chúa Cha đã muốn: vào trong sa mạc để chịu cám dỗ, lên núi để biến hình, vào vườn Gethsemane với mồ hôi máu. Người nói, “tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (x. Ga 8,29). Mặt khác, Đức Giêsu cũng dẫn Đức Maria đi trên cùng một con đường (same race) thực hiện Ý Chúa Cha.

  1. Đức Maria, Môn Đệ của Chúa Giêsu.

Đức Maria đã đáp lại ra sao với cách thức của Con, và của chính Thiên Chúa, đã đối xử với Mẹ? Chúng ta hãy đọc lại một lần nữa những bản văn chúng ta đã nhắc đến. Chúng ta chú ý rằng sẽ không bao giờ có ở đó một lời nói bóng gió, cho dù là nhẹ nhất của Mẹ, đối lập lại ý muốn Thiên Chúa, hoặc là sự phản đối, hoặc tự bào chữa về vai trò của Đức Maria; ở đó không hề có một chút cố gắng nào ngõ hầu Đức Giêsu thay đổi ý nghĩ! Đó đã là một sự ngoan ngùy tuyệt đối.

Ở đây, chúng ta chiêm ngưỡng sự thánh thiện cá vị độc nhất của Mẹ Thiên Chúa, sự tuyệt diệu của ân sủng. Để nhận ra điều này, chúng ta phải làm một chút so sánh với Thánh Phêrô. Khi Đức Giêsu thông báo cho Phêrô về sự loại trừ, về sự vượt qua, về cái chết đang đợi Người ở Giêrusalem, Phêrô đã trách Người và nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (x. Mt 16,22). Ông đã lo lắng về Đức Giêsu nhưng cũng là cho mình. Đức Maria đã không lo lắng gì cho bản thân mình.

Đức Maria đã ở trong sự thinh lặng. Câu trả lời của Mẹ cho mọi thứ là sự thinh lặng của Mẹ. Sự thinh lặng của Đức Maria là một đức tính khác. Điều này đã rõ ràng khi ở tiệc cưới Cana miền Galilê, mặc dù bị làm tổn thương, Đức Maria đã hiểu nhờ đức tin và có lẽ nhờ cách thức mà Đức Giêsu đã nhìn vào Mẹ khi Mẹ nài nỉ, để rồi Mẹ nói với đầy tớ, “Hãy làm những gì Người nói” (x. Ga 2,5). Thậm chí, sau những lời khó nghe Đức Giêsu đã dùng khi các ngài tìm thấy Người ở đền thờ và những điều Đức Maria đã không hiểu, Tin Mừng ghi lại rằng Đức Maria đã im lặng và “ghi nhớ tất cả những điều đó trong lòng” (x. Lc 2,51).

Thực ra, Đức Maria giữ thinh lặng không phải để tỏ ra là mọi thứ đã dễ dàng đối với Mẹ, hay Mẹ đã không phải vượt qua những khó khăn. Mẹ đã được giải thoát khỏi tội, chứ không khỏi sự chiến đấu, hay khỏi những điều mà Thánh Giáo hoàng Gioan Phalô II đã nói: “sự đau buồn của tâm hồn một cách đặc biệt, đã nối kết cách nào đó với đêm tối đức tin”. Nếu Đức Giêsu trong vườn Gethsemane phải đấu tranh đến nỗi đổ ra những giọt mồ hôi máu để ý muốn nhân loại của Người hoàn toàn tuân theo Thánh Ý Chúa Cha, vậy có ngạc nhiên không khi Mẹ Người cũng phải đối diện với đau đớn? Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là: cho dù bất kỳ điều gì hay trong hoàn cảnh nào thì Đức Maria cũng đã không muốn quay trở lại. Khi một tâm hồn nào đó, đã được dẫn dắt bởi Thiên Chúa dọc theo những lối đường tương tự, được hỏi là họ có muốn cầu nguyện cho nó kết thúc hoặc quay trở lại như thưở ban đầu, họ trả lời ngay lập tức, “Không!”, dù cho họ đã bối rối như thế nào và thậm chí vào những lúc bên bờ vực của sự tuyệt vọng hiển nhiên.

Trong phần trên, chúng ta đã chiêm ngắm Đức Maria với tư cách là Mẹ Thiên Chúa, bây giờ chúng ta cùng suy niệm Mẹ trong tư cách là môn đệ của Người. Liên quan đến những lời của Đức Giêsu, “Ai là mẹ tôi?”… bất kỳ ai thi hành thánh ý Thiên Chúa là anh chị em tôi và là mẹ tôi” (x. Mc 3,33-35), thánh Augustinô chú giải:

“Có phải Đức Trinh Nữ đã làm theo Ý Chúa Cha, Bà là người đã tin trong đức tin, và trong đức tin đã thụ thai, đã được lựa chọn để ơn cứu độ được sinh ra cho chúng ta giữa những con người, và đã được tạo thành bởi Đức Kitô trước khi Đức Kitô được hình thành trong dạ Mẹ? Thánh Maria đã hoàn toàn làm theo Ý Chúa Cha; và vì thế đáng được tán dương hơn cho Đức Maria vì đã làm môn đệ Đức Kitô và hơn nữa là mẹ Đức Kitô. Đức Maria đã hạnh phúc bởi vì trước khi sinh ra Người Con, Mẹ đã cưu mang Người Thầy trong dạ mình… Đó là lý do tại sao Đức Maria được chúc phúc, Mẹ đã lắng nghe Lời Thiên Chúa và đã thực hành Lời đó.”

Như thế, trong thể xác Đức Maria chỉ là Mẹ Đức Kitô, nhưng về thiêng liêng Đức Maria là chị và mẹ Người.

Vậy liệu chúng ta có nghĩ rằng cuộc sống của Đức Maria đã là một nỗi ưu phiền dai dẳng, một cuộc sống ảm đạm? Trái lại, đánh giá điều đó trong sự tương đồng với cuộc sống của các thánh, chúng ta phải nói rằng mỗi ngày Đức Maria đã tìm ra niềm vui mới, với sự lưu tâm về những niềm vui mẫu tử ở Bethlehem hay Nazareth, khi Mẹ đặt Đức Giêsu lên ngực của mình và khi Người đặt mình lên má của Mẹ. Niềm vui của việc không làm theo ý Mẹ. Niềm vui của sự tin tưởng. Niềm vui của việc trao cho Thiên Chúa điều gì là quý giá nhất, như trong tương quan với Thiên Chúa, đó là niềm vui tuyệt vời của việc cho đi hơn là nhận lãnh. Niềm vui của sự khám phá ra Thiên Chúa, nhận ra đường lối của Ngài không thể tiếp cận được và suy nghĩ của Ngài không phải là những suy nghĩ của chúng ta nhưng là của Ngài, bởi vì điều đó, làm cho chính Ngài được biết đến như Ngài thực sự là: Thiên Chúa, Đấng Thánh.

Một nhà thần bí lớn đã có những kinh nghiệm tương tự, thánh Angela Foligno, đã nói về niềm vui đặc biệt trong sự hiểu biết rất giới hạn của con người, điều chị gọi là “niềm vui không thể hiểu được” (joy of incomprehensibility – gaudium incomprehensibilitatis). Điều này hệ tại ở việc đó là Đấng không thể hiểu được, vì Thiên Chúa là Đấng có thể hiểu được thì sẽ không còn là Thiên Chúa. Điều không thể đạt thấu này mang lại niềm vui thăng hoa hơn là nỗi buồn chán bởi vì điều đó chỉ ra rằng Thiên Chúa thậm chí giàu có và vĩ đại hơn bất kỳ điều gì mà bạn có thể tưởng tượng ra và Người là Thiên Chúa “của bạn”! Niềm vui như thế là điều mà các thánh có được trong thiên đàng, và theo thánh Angela Foligno, đó cũng là điều Đức Nữ Trinh Diễm Phúc đôi khi đã cảm nghiệm ngay tại cuộc sống này.

Từ những suy gẫm của chúng ta về Đức Mẹ trong suốt cuộc đời công khai của Đức Giêsu chúng ta có thể có được sự yên ủi chắc chắn: Chúng ta có một người Mẹ có thể hiểu những nỗi yếu hèn của chúng ta, đã chịu “thử thách” (tempt) về mọi phương diện giống như ta, ngoại trừ tội lỗi. Giờ đây Mẹ sống trong vinh quang ở Thiên đàng bên cạnh Con của Mẹ, Mẹ có thể dang cánh tay của mình ra và kéo chúng ta theo gương của Mẹ, nói với chúng ta thậm chí thật hơn cả thánh Phaolô: “Anh em hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Ki-tô” (x. 1Cr 11,1).

Chúng ta cùng hướng về Mẹ Thiên Chúa với lời cầu nguyện thân thương cùng với mọi người Kitô hữu.

Chúng con chạy thật nhanh đến sự bảo vệ của Mẹ,

Ôi Mẹ Thánh Thiện, Mẹ Thiên Chúa;

Đừng khinh chê những lời khẩn nguyện của chúng con trong những khi khẩn thiết,

nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi hiểm nguy,

Ôi Huy Hoàng và Đức Nữ Trinh Diễm Phúc.

Amen.

1.John Paul II, Redemptoris mater, 18.

2.Ibid., 17.

3.Lumen gentium, 58.

4.St. Augustine, Sermons, 72A (Denis 25), 7 (Miscellanea Agostiniana I, p. 162).

5.St. Augustine, Of Holy Virginity, 5 (PL 40, 399).

6.The Book of the Blessed Angela of Foligno, Instruction III (ed. Quaracchi, Grottaferrata, 1985), p. 468.

(Augustino Kim phỏng dịch theo “O woman, what have you to do with me? Kenosis of the Mother of God – First sermon, Lent 2020” của Cha Cantalamessa, Tại Phủ Giáo Hoàng, ngày 20-03-2020)