Đứng Gần Thập Giá Của Đức Giêsu Có Mẹ Người

Đức Maria Suy Niệm

ĐỨNG GẦN THẬP GIÁ CỦA ĐỨC GIÊSU CÓ MẸ NGƯỜI

Đức Maria Trên Đồi Canvê (Calvary)

Chúng ta sẽ suy niệm dựa trên đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan 19, 25-27:

Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Maria Magdalene. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

Trong khi trình bày suy niệm, chúng ta sẽ chỉ xem xét phần đầu của bản văn trình thuật, sau đó chúng ta sẽ chuyển qua những điều Đức Giêsu đã nói.

Nếu Đức Maria, Mẹ Người, đã ở nơi ngọn đồi Canvê ngay phía chân của Thập Giá Đức Giêsu, ắt hẳn Mẹ đã ở Giêrusalem trong những ngày đó, và nếu Mẹ đã ở Giêrusalem, Mẹ đã làm chứng về mọi điều và đã hiện diện trong mọi biến cố đã xảy ra. Mẹ đã hiện diện vào lúc Ecce homo! (đây là Người!); Mẹ đã thấy thịt của thịt mẹ đang bị đánh bằng roi, đang chảy máu, đang phải đội vòng gai trên đầu; Mẹ đã nhìn thấy Người gần như lõa thể trước đám đông dân chúng, đang run sợ, cơ thể của Người đang run lên trong sự rùng mình của sự chết. Mẹ đã nghe những tiếng đập mạnh của các nhát búa và những tiếng lăng mạ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa …” Mẹ đã nhìn thấy những người lính chia nhau áo trong và áo dài của Người, chiếc áo dài mà có lẽ Mẹ đã dệt.

Tin Mừng thuật lại cho chúng ta: “đứng gần bên thập giá Đức Giêsu có Mẹ Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Maria Magdalene”. Như vậy, Mẹ đã không đứng một mình; Mẹ là một trong số những phụ nữ. Nhưng Đức Maria đã hiện diện trong tư cách là mẹ của Người, và sự thật này đã thay đổi mọi sự, vì vai trò của Đức Maria trong một hoàn cảnh rất khác biệt so với những người phụ nữ khác. Tôi nhớ đến một đám tang của một cậu bé 18 tuổi. Một vài người phụ nữ đã đi theo chiếc xe tang. Họ bận những chiếc váy màu đen và ai cũng khóc, vì thế trông họ khá giống nhau. Nhưng một trong số đó, người mẹ, thì khác biệt, mọi người có mặt ở đó đều đang nghĩ về bà và hầu hết lén lút liếc nhìn bà! Bà là một góa phụ, người con trai kia là đứa con duy nhất. Đôi mắt của bà tập trung nhìn chằm chằm vào quan tài, khi mọi người có mặt ở đó đã bắt đầu hát, “Thánh, Thánh, Thánh, Lạy Chúa là chúa tể trời đất,” bà cũng vậy, nhưng có lẽ đã không ý thức rõ ràng nó, đã bắt đầu lẩm nhẩm, “Thánh, Thánh, Thánh…” Tôi đã nghĩ đến Đức Maria dưới chân thập giá.

Nhưng điều gì đó khó khăn hơn nhiều đã được nói bởi Đức Maria: tha thứ. Khi Mẹ nghe Con mình thốt lên, “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (x. Lc 23,24), Mẹ đã biết Cha trên trời cũng muốn Mẹ lặp lại cùng một lời như vậy với trọn vẹn tâm hồn: “Lạy Cha, xin Cha tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.” Và Mẹ đã lặp lại những lời đó. Mẹ đã tha thứ.

Nếu Đức Maria đã bị thử thách, như Đức Giêsu đã chịu trong hoang mạc, thì thử thách đó đã được thực hiện trên hết nơi chân thập giá. Sự thử thách rất rất lớn và vô cùng đau khổ bởi vì lý do của sự thử thách đó là chính Đức Giêsu. Mẹ đã tin vào lời hứa, mẹ đã tin rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia, Con Thiên Chúa; Mẹ biết rằng nếu Đức Giêsu đã khẩn cầu lên Chúa Cha, Ngài sẽ sai cho Người “ hơn mười hai đạo binh các thiên thần” (x. Mt 26,53). Nhưng Mẹ đã thấy Đức Giêsu không làm điều đó. Nếu Người giải thoát mình khỏi thập giá, Người cũng sẽ giải thoát Mẹ khỏi nỗi buồn thảm thiết này, nhưng Người đã không thực hiện.

Hơn nữa, Đức Maria đã không khóc nức nở, “Xuống khỏi thập giá; cứu Con và Mẹ nữa!” Mẹ cũng không than khóc, “Con ơi, con đã cứu những người khác; tại sao con không cứu lấy bản thân mình?”- cho dẫu điều đó không khó khăn để hiểu rằng: những ý nghĩ và những khao khát tương tự phải có và đến với tâm hồn Mẹ cách rất đỗi tự nhiên. Đức Maria đã thinh lặng. Với cách nói chung của con người, điều đó thật hợp lý để Đức Maria đã kêu lên với Thiên Chúa, “Ngài đã quyến rũ con!” – tương tự như một ngày kia tiên tri Gieremia đã kêu lên, “Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.” (x. Gr 20,7) – và chạy trốn khỏi Canvê. Thay vào đó, Mẹ đã không chạy trốn nhưng đã ở lại đó, đang đứng, trong thinh lặng, và theo cách đó Mẹ đã trở thành tử đạo trong đức tin với một cách thức rất đặc biệt, một lời chứng tuyệt hảo cho niềm trông cậy vào Thiên Chúa, sau Con của Mẹ.

Ý niệm Đức Maria đã nên một với hiến tế của Con thật là đúng đắn và đã được diễn tả chính thức trong bản văn của Công Đồng Vaticano II:

Từ muôn đời, Ðức Nữ Trinh đã được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa. Và theo chương trình của Chúa Quan Phòng, trên trần gian Ngài đã trở nên Mẹ cao trọng của Ðấng Cứu Chuộc thần linh, và cách đặc biệt hơn mọi người khác, Ngài là cộng sự viên quảng đại và tôi tá khiêm hạ của Chúa. Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh và cùng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nàn, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn.

Vậy, Đức Maria đã không chỉ đứng gần thập giá Đức Giêsu trong phương diện địa lý và thể lý. Mẹ cũng đứng đó trên phương diện tinh thần. Mẹ đã nên một với Thập Giá Đức Giêsu; Mẹ đã ở trong một nỗi đau khổ tương tự. Mẹ đã đau đớn trong cõi lòng của Mẹ điều mà Con của Mẹ đã đau đớn nơi thân xác Người. Và làm sao mà người ta khi đã có những ý nghĩ về ý nghĩa của vai trò làm mẹ có thể nghĩ khác được?

Đức Giêsu cũng là một con người, và trong giờ phút ở Canvê cũng vẫn là một người, trong con mắt của thiên hạ, chỉ là một đứa con bị hành hình trước mặt mẹ của hắn. Đức Giêsu đã không nói: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” nữa (x. Ga 2,4). Lúc này, giờ của Người đã đến, Người và Mẹ Người đã có chung một điều rất đặc biệt, chung đau khổ. Trong những giờ phút cuối cùng dường như Chúa Cha cũng rút khỏi cái nhìn chằm chằm như nhân của Người một cách thật khó hiểu, Đức Giêsu chỉ còn lại cái nhìn chăm chú của Mẹ Người, và từ cái nhìn đó mang lại niềm an ủi và nguồn ủi an. Trước đây khi ở vườn Gethsemane Người đã muốn ba môn đệ “Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (x. Mt 26,28), bây giờ lại coi kinh sự hiện diện và sự an ủi của Mẹ Người?

Đứng gần bên Thập Giá Đức Giêsu.

Theo như nguyên tắc thường lệ hướng dẫn chúng ta xem Đức Maria như là hình tượng và mẫu gương của Giáo hội, là đóa hoa tiên khởi và là khuôn mẫu, chúng ta phải hỏi lại bản thân mình điều gì Chúa Thánh Thần đã muốn nói với Giáo Hội qua việc chọn lựa về sự hiện diện của Đức Maria và những lời của Đức Giêsu với Mẹ được ghi lại trong Tin Mừng.

Một lần nữa, lời của Thiên Chúa ngầm chỉ về Đức Maria cũng như về Giáo Hội, và nói cho chúng ta điều mà mỗi tín hữu cần noi gương Mẹ ra sao: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có Mẹ Người và gần Mẹ có người môn đệ Người yêu mến.” Một bài học bị ẩn giấu trong thực tế để có thể hiểu chúng ta sẽ cần phân tích kỹ càng. Điều sẽ xảy ra vào ngày hôm đó cũng là điều sẽ diễn ra hàng ngày: chúng ta nên đứng gần Đức Maria dưới chân Thập giá Đức Giêsu, như là người môn đệ Chúa yêu.

Có hai điều bị che khuất đi trong câu này. Thứ nhất, chúng ta sẽ dừng lại ở “đứng gần bên thập giá”, kế đến chúng ta dừng lại ở đứng gần bên thập giá “của Đức Giêsu”. Hai điều khác nhau, cho dẫu không thể tách rời.

Đức gần bên thập giá “của Đức Giêsu”. Những từ này nói với chúng ta về điều đầu tiên và quan trọng nhất để thực hiện là không chỉ đứng gần bên Thập giá nhưng đứng gần bên Thập giá của Đức Giêsu. Đứng gần bên Thập giá trong đau khổ và thinh lặng thì không đủ. Có lẽ được xem như một người hùng, ấy vậy mà vẫn chưa phải là điều quan trọng nhất. Dường như nó chả có nghĩa lý gì. Điều sống còn đó là đứng gần bên thập giá “của Đức Giêsu”. Nói cách khác, điều được đong đếm không phải thập giá của từng người nhưng là thập giá của Đức Giêsu. Không phải những nỗi thống khổ đã được đo lường nhưng sự tin tưởng, theo cách đó làm cho những đau khổ của Đức Kitô thành của chúng ta. Điều chính yếu là đức tin.

Điều vĩ đại nhất về Đức Maria đứng dưới chân Thập giá là đức tin của Mẹ, thậm chí nó đã lớn hơn cả những đau khổ của Mẹ. Thánh Phaolô nói rằng: Thập giá là sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa đối với chúng ta, những kẻ đã được cứu độ. (x. 1 Cor 1:18, 24); là sức mạnh của Thiên Chúa “đối với bất cứ ai có lòng tin” (x. Rm 1,16). Thế thì, cho tất cả mọi người là những kẻ có đức tin mà không dành cho những con người đau khổ? Ngay cả khi như chúng ta sẽ thấy, cả hai điều đó thường được nối kết với nhau.

Đây là nguồn sức mạnh và thành quả của Giáo Hội. Sức mạnh của Giáo Hội đến từ việc giảng dạy Thập giá của Đức Kitô, điều mà trong mắt thế gian xem là biểu tượng của sự điên rồ và yếu đuối. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có (x. 1 Cr 1.27). Điều cần thiết là từ bỏ sự trổi vượt của con người để rồi sức mạnh thần linh của Thập Giá Đức Kitô có thể được tỏ lộ. Chúng ta phải nhấn mạnh tại điểm này vì nó vẫn thực sự cần thiết. Đa số các tín hữu đã không được giúp đỡ để đi sâu vào màu nhiệm này, một màu nhiệm là cốt tủy của Tin Mừng, của bài giảng tiên khởi (kerygma) và của việc thay đổi đời sống.

“Đứng gần bên thập giá”. Nhưng điều gì là dấu chỉ và chứng cớ mà chúng ta thực sự tin vào Thập giá Đức Kitô? Đó là “ngôn ngữ của thập giá” không chỉ là lời, một nguyên tắc khó hiểu, một mảng thần học hay ý tưởng to lớn, nhưng thập giá thực sự. Dấu chỉ và dấu chứng là điều này: bạn hãy vác lấy thập giá của mình và theo Đức Giêsu (x. Mc 8,34). Dấu chỉ đó là cùng chịu đau khổ với Người (x. Phil 3,10; Rm 8,17), cùng chịu đóng đinh với Người (x. Gl 2,20). Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức (x. Cl 1,24). Toàn bộ đời sống người Kitô hữu phải hiến dâng thân mình làm của lễ sống động như Đức Kitô (x. Rm 12,1). Không những là chấp sự đau khổ một cách bị động mà còn là chủ động sống sự đau khổ đó và nên một với Đức Kitô. Như thánh Phaolô nói: “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng” (x. 1 Cr 9,27). Sách Gương phúc cho chúng ta hay: “Toàn bộ đời sống của Đức Kitô đã là thập giá và sự hiến mạng, bạn lại đang tìm kiếm sự nghỉ ngơi và niềm vui?”.

Thực ra, chúng ta có hai cách suy xét khác nhau về thập giá và cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Thứ nhất, đặc điểm của thần học tin lành, được đặt cơ sở trên Đức tin và Ba Ngôi học (appropriation). Đặt nền tảng trên thập giá của Đức Kitô và không còn muốn một vinh quang nào khác mà không là thập giá Đức Kitô. Thứ đến, người có học thức, ít nhất là trong quá khứ, cách đặc biệt là linh đạo Công Giáo, nhấn mạnh sự đau khổ cùng với Đức Kitô, trong việc chia sẻ sự khổ nạn của Người, và, như trong trường hợp của một vài vị thánh, kinh nghiệm sống động trong bản thân họ về cuộc khổ nạn của Đức Kitô, bao gồm các Dấu Thánh. Chủ nghĩa đại kết thúc đẩy chúng ta phục hồi lại những tổng hợp của điều gì mà trong đó Giáo Hội đã kết thúc bởi sự chia rẽ và chống đối.

Đương nhiên, đó không phải là vấn nạn trong việc đặt để công việc của Thiên Chúa và của chúng ta trong cùng một cấp độ nhưng của việc chấp nhận lời của Kinh Thánh. ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết (x. Gc 2,14tt). Trong thời ấy, anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội, – vàng là của phù vân, mà còn phải chịu thử lửa. Nhờ thế, khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, đức tin đã được tinh luyện đó sẽ trở thành lời khen ngợi, và đem lại vinh quang, danh dự (x. 1Pr 1,6-7).

Thập giá của chúng ta tự nó không phải là ơn cứu độ hay sức mạnh hay sự khôn ngoan; tự nó đơn giản chỉ là con người, thậm chí là hình phạt. Nó trở nên sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa bởi vì nó hiệp nhất chúng ta với thập giá của Đức Kitô, ý định của chính Thiên Chúa. Trong khi phục hồi sức khỏe vì bị ám sát, thánh Gioan Phaolo II đã viết lá thư trong đau khổ, Ngài viết: “chịu đau khổ nghĩa là trở nên nhạy cảm đặc biệt, mở ra cách đặc biệt với công cuộc của quyền năng cứu độ của Thiên Chúa, hiến dâng bản tính nhân loại trong Đức Kitô.” Những nỗi đau khổ hiệp nhất chúng ta với thập giá của Đức Kitô không chỉ trí năng nhưng còn là sự hiện hữu và thể lý. Đó là một lối mòn dễ dàng, một cách thức tiếp cận, để đến với thập giá của Đức Kitô, không phải song song với đức tin nhưng là một với nó.

“Trong niềm cậy trông Mẹ đã vững tin mặc dù không còn gì để hy vọng” (x. Rm 4,18)

Mặt khác đây là cơ hội để tiến thẳng về phía trước. Màu nhiệm vượt qua không hệ tại ở chỗ hoặc là được thực hiện bởi chính thập giá Đức Kitô hoặc là bởi chính sự phục sinh; cũng không ở chỗ cả hai được thực hiện cùng nhau, một cái trước cái sau, được đặt kề cận nhau và hoà vào nhau. Nó hệ tại trong việc vượt qua từ một điều này sang điều khác, từ cái chết đến sự sống, vượt qua sự chết đến với vinh quang thiên quốc (x. Lc 24,26; Cv 14,22). Vậy thì hệ tại vào điều gì đó sinh động (dynamic), không cứng nhắc, vào sự vận hành (movement) hay biến cố đó, đại loại vậy, không thể bị đứt đoạn nếu không bị phá huỷ.

Đối với Gioan, thập giá của Đức Giêsu không chỉ là giây phút cái chết của Người, nhưng thậm chí “sự vinh quang” của Người. Sự phục sinh đã thực sự diễn ra (operating) trong đó, trong dấu chỉ của Thần Khí được tuôn đổ từ cạnh sườn bị đâm thâu (x. Ga 7,37tt). Do đó, Trên đồi Canvê, Đức Maria không những chỉ kinh nghiệm về cái chết của Con Mẹ mà còn là hoa trái đầu tiên của sự phục sinh. Một hình ảnh Đức Maria đứng dưới chân thập giá như là một ai đó chúng ta có được từ Stabat Mater, trong đó Đức Maria chỉ là “thê lương, buồn bã, và thống khổ”, sẽ không thể hoàn tất. Trên đồi Canvê, Mẹ không chỉ là “Mẹ của những nỗi thống khổ” nhưng còn là “Mẹ của niềm hy vọng”, Mater Spei, như là Giáo hội đã cầu khẩn Mẹ trong một trong số các bài thánh ca cổ.

Thánh Phaolô đã quả quyết dõi theo Abraham trong tình thế khó khăn của ông: “Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin” (x. Rm 4,18). Cùng với mọi lý lẽ khác chúng ta phải nói lên như Đức Maria đứng dưới chân thập giá: trong niềm cậy trông Mẹ đã tin tưởng chống lại sự hy vọng, đó là, trong một trạng huống như thế, tiếng nói nhân loại là hoàn toàn tuyệt vọng, người đã không bao giờ dừng hy vọng trong hiệu quả của lời hy vọng, đã thốt lên vào giờ của Thiên Chúa. Trong một cách không thể giải nghĩa được, điều mà có lẽ Mẹ cũng không thể lý giải cho chính mình, Đức Maria cũng vậy, cũng như Kinh Thánh nói về Abraham, đã tin tưởng rằng Thiên Chúa đã có thể làm cho con của Mẹ “trỗi dậy” (to raise) “thậm chí từ cõi chết” (x. Hr 11,19).

Một bản văn của Công Đồng Vatican II đề cập đến niềm hy vọng của Đức Maria đứng dưới chân thánh giá như là nhân tố xác định của ơn gọi là mẹ của Mẹ. Nói rằng: đã nên một với Người như Người đã chết trên thập giá, “trong cách thức phi thường này Mẹ đã cộng tác bằng sự vâng phục của mình, đức tin, đức cậy và đức ái mãnh liệt vào trong công cuộc Cứu Độ”.

Chúng ta hãy quay về phía Giáo Hội và phía chúng ta. Thánh Augustinô nói rằng: ba biến cố được Giáo Hội tưởng nhớ trong Tam nhật vượt qua – khổ hình thập giá – an táng – và phục sinh của Đức Chúa – “chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhận ra ý nghĩa của khổ hình thập giá, trong khi, nhờ đức tin, chúng ta có sự hy vọng trong điều mà sự mai táng và phục sinh biểu lộ.” Giáo Hội, giống như Đức Maria, sống sự phục sinh “trong niềm hy vọng”. Cũng thế, đối với điều đó, thập giá là một đối tượng của kinh nghiệm, trong khi sự phục sinh là đối tượng của niềm hy vọng.

Như Đức Maria đã đứng gần khổ giá của Con Mẹ, Giáo Hội cũng được mời gọi để đứng gần với khổ giá của ngày nay: sự nghèo khó, sự hy sinh, bị sỉ nhục, bị xúc phạm. Làm cách nào Giáo Hội có thể đứng gần những điều đó? Trong niềm hy vọng, như Đức Maria. Lòng trắc ẩn đối với những đau khổ, hay thậm chí là cố gắng xoa dịu những khó khăn đó, dường như không đủ. Nó thật vô cùng nhỏ bé. Bất kỳ ai có thể làm điều này, thậm chí kể cả những người không biết đến sự phục sinh. Giáo Hội phải thông chuyển niềm hy vọng, tuyên bố rằng đau khổ thì không ngớ ngẩn, nó thật có ý nghĩa, bởi vì sẽ được phục sinh sau khi chết. Mẹ phải đưa ra lý do cho niềm hy vọng mà Mẹ đã có. (x. 1 Pr 3,15)

Con người cần niềm hy vọng để sống như là họ cần oxy để hít thở. Giáo Hội cũng cần niềm hy vọng để thăng tiến trong lịch sử và không bị nghiền nát bởi những nỗi gian nan ngoại tại cũng như nội tại. Trong buổi đọc kinh truyền tin chung hàng tuần ngày 11 tháng 03 – lần công khai cuối cùng trước khi đại dịch Corona Virus – Đức Giáo Hoàng Phanxicô thúc giục chúng ta sống thời gian thử thách này “với sức mạnh, trách nhiệm, và hy vọng”.

Đức cậy đã có, và vẫn tiếp tục một tương quan nghèo nàn giữa các nhân đức đối thần. Nhà thơ Charles Péguy đã có một hình ảnh đẹp trong cái nhìn này. Ông nói ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy, và đức ái) giống như ba chị em: cả hai lớn lên và một vẫn mãi là đứa trẻ. Chúng nắm tay và đi cùng nhau trên đường phố, hai người chị lớn đi hai bên và cô em bé đi ở giữa. Cô em út dĩ nhiên là đức cậy. Mọi người nhìn chúng mà nói: “chắc chắn hai cô chị lớn đang dắt cô em gái đi giữa!”. Họ đã sai: chính cô em gái út là đức cậy dắt tay hai người chị, bởi vì nếu đức cậy ngừng lại mọi thứ sẽ dừng lại.

Chúng ta phải trở nên “kẻ đồng hành với cô bé Đức cậy”, như là nhà thơ đã nói. Có lẽ bạn đã hăng hái hy vọng về một điều gì đó, đã hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ can thiệp, và chẳng có gì xảy ra. Lần tới bạn lại hy vọng và cũng không có gì xảy ra. Nhiều điều vẫn như trước đó cho dẫu mọi lời van xin và những giọt lệ của bạn, có lẽ bất chấp một vài dấu hiệu cho thấy lúc này Chúa đang lắng nghe bạn? Nếu bạn tiếp tục hy vọng và lại hy vọng; nếu bạn không bao giờ từ bỏ hy vọng, cho đến tận cùng, bạn trở thành kẻ đồng hành của đức cậy.

Điều này có nghĩa là bạn để cho Thiên Chúa đánh lừa bạn, lừa gạt bạn trong thế giới này mỗi lần Người muốn. Hơn thế nữa, niềm vui sướng sâu thẳm trong những góc xa xôi hẻo lánh của tâm hồn bạn là Thiên Chúa không lắng nghe bạn, bởi vì, theo cách này, người đã cho phép bạn chỉ cho Người thấy dấu chứng hy vọng khác của bạn, để làm một hành động hy vọng khác, điều đó ngày càng khó khăn hơn nữa đối với bạn. Người đã ban cho bạn nhiều ân sủng lớn lao hơn điều bạn đã xin: ân sủng để hy vọng nơi Người. Người đã vĩnh viễn để cho chúng ta “tha thứ cho Người” vì sự chậm trễ!

Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng niềm hy vọng không chỉ là sự sẵn sàng nên thơ và đẹp đẽ bên trong, khó như bạn thích, nhưng là, khi mọi thứ đã được nói và đã qua đi, nó không được gọi cho công việc hay nhiệm vụ đặc biệt,và vì thế, sau cùng là vô nghĩa. Mặt khác, những ý nghĩa đích thực của niềm hy vọng đó là tiếp tục điều gì đó chúng ta có thể làm, một bổn phận để hoàn thành, và do đó, chúng ta không phó mặc cho sự phù phiếm hay tình trạng ì ạch, tê liệt.

Vì thế, ngay cả khi trong tình trạng uổng công thì chúng ta đã hoàn thành việc thay đổi tối đa tình huống khó khăn, chúng ta tiếp tục có điều gì đó lớn lao để thực hiện, ngõ hầu sẽ chiếm giữ chúng ta và giữ cho sự tuyệt vọng xa rời chúng ta, và đấy là kiên nhẫn chịu đựng cho đến cùng. Đây là một điều vô cùng tuyệt vời mà Đức Maria đã thực hiện như Mẹ đã hy vọng khi đứng dưới chân thập giá, và Mẹ đang giúp chúng ta thực hiện điều tương tự.

Chúng ta có thể tìm thấy những sự dâng trào thực sự và các cảm xúc bùng nổ của niềm hy vọng trong Kinh Thánh. Đây là một tỷ dụ, trong bài Ai ca thứ ba, bài hát của tâm hồn trong tình trạng vô cùng sầu não, điều đó có thể áp dụng theo nghĩa văn tự cho Đức Maria đứng dưới chân thập giá:

Tôi là người đã sống cảnh lầm than… [Đức Chúa] dẫn tôi, bắt tôi lần bước, trong tối tăm, không ánh sáng soi đường… Người xây tường vây kín lấy tôi, tôi không sao trốn thoát… Tôi kêu la cầu cứu, Người cũng bịt miệng tôi, không để tôi khẩn nguyện… tôi đã quên mùi hạnh phúc rồi. Tôi tự nhủ: cuộc sống của mình nay chấm dứt, hy vọng nơi ĐỨC CHÚA cũng tiêu tan. (x. Ac 3, 1-18).

Nhưng lúc chúng ta nhận thấy sự dâng trào bất ngờ của niềm hy vọng, và tình thế đổi thay. Ở một lúc nào đó kẻ thờ lạy nói với chính mình: “Lượng từ bi ĐỨC CHÚA đâu đã cạn, lòng thương xót của Người mãi không vơi; vì thế, tôi sẽ đặt niềm hy vọng của tôi ở nơi Người! Vì quả thật, Đức Chúa chẳng bỏ rơi mãi mãi: có làm khổ, Người cũng xót thương, vì Người vốn từ bi cao cả.” (x. Ac 3, 21-32). Từ giây phút vị tiên tri quyết định quay trở về với niềm hy vọng, cung giọng đã thay đổi, lời than van hoán chuyển qua sự tin tưởng nài xin vào Thiên Chúa can thiệp.

Bây giờ, chúng ta hãy hướng về Đức Maria, Người đã đứng gần thập giá bằng niềm hy vọng khi không còn gì để hy vọng. Chúng ta hãy khẩn nài Mẹ như là Mẹ của niềm hy vọng với những lời lẽ trong bài hát rất cổ của Giáo Hội.

Salve Mater misericordiae,

Mater Dei, et mater veniae,

Mater Spei, et mater gratiae,

Mater plena sanctae laetitiae,

O MARIA!

Bài giảng thứ ba trong mùa chay năm 2020 tại Phủ Giáo Hoàng của Cha Caltalamessa. Standing by the cross of Jesus was his Mother.

Augustinô Vũ Hoàng Kim, phỏng dịch.