Chầu Thánh Thể Thứ Năm Tuần Thánh

Chầu Thánh Thể Phụng Vụ

CHẦU THÁNH THỂ THỨ NĂM TUẦN THÁNH 

Khi giờ đã đến, Đức Giêsu  vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người. Người nói với các ông: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa.” Rồi Người nhận lấy chén, dâng lời tạ ơn và nói: “Anh em hãy cầm lấy mà chia nhau. Bởi vì, Thầy bảo cho anh em biết, từ nay, Thầy không còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến khi Triều Đại Thiên Chúa đến.” Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em (x. Lc 22,14-20).

Chúng ta cùng lần giở lại những trang Thánh Kinh, sẽ bắt gặp trong đó hình ảnh của việc thiết lập Giao ước cùng Nôê, Giao ước với Apbraham, Giao ước trên núi Xinai qua vị trung gian là Môsê, Giao ước với vương triều Đavit qua chính vua Đavit…

Từ ngữ Giao ước được sử dụng để diễn đạt một tương quan mang tính ràng buộc với đôi bên dự trên lời cam kết. Nhưng Giao ước của Thiên Chúa mang một điều đặc biệt: Thiên Chúa tự trói buộc mình vào giao ước với dân, Ngài luôn hiện diện cùng với dân cho dẫu họ có sung túc hay nghèo túng, thành công hay thất bại… vì Ngài đã chọn dân Israel làm dân riêng của mình. Bù lại, dân sẽ nhìn nhận Ngài là Thiên Chúa của họ và tuân giữ những điều Thiên Chúa đã phán (x. Xh 24,3.7). Những Lời Thiên Chúa phán đây chính là thập giới (Xh 20,1-17) và Bộ luật giao ước (Xh 19,5-6).

Nhưng dân Israel lại chứng nào tật đó, họ lại bỏ chạy theo các tà thần mà bất tin với Thiên Chúa của Giao ước. Đến nỗi Môse phải thốt lên một sự sự thật đầy não lòng: “Nhưng cho đến ngày hôm nay, ĐỨC CHÚA đã không cho anh em lòng để biết, mắt để thấy, tai để nghe” (x. Dnl 29,3). Các ngôn sứ đến sau cũng thảm thiết kêu gào đến rát cả cổ họng mà dân cũng chả nghe. Hôsê đã phải ví họ như một người vợ bất trung, bỏ chồng mà đi làm điếm (x. 3,4-15). Còn Isaia thì ví họ ngu hơn bò lừa, đánh từ bàn chân cho đến đỉnh đầu không còn chỗ nào lành lặn mà cũng vô ích (x. 1,2-6).

Nhưng Thiên Chúa vẫn một niềm tín trung, Ngài vẫn yêu thương họ và yêu thương họ đến cùng. Thiên Chúa đã dùng qua miệng ngôn sứ Giêrêmia mà loan báo một giao ước mới. Giao ước này được viết vào trái tim thay cho giao ước cũ ghi khắc trên đá. Thay vì truyền buộc bên ngoài bằng lời hứa hẹn và đe dọa hay lưu đầy thì nền tảng giao ước mới sẽ là sự hiểu biết chân thành đối với Thiên Chúa. “Này sẽ đến những ngày, Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” (x. Gr 31, 31-33).

Giao ước cũ của lề luật đã chết, thay vào đó là một giao ước mới được ghi khắc trong trái tim. Không phải là quả tim bằng đá, nhưng là một quả tim bằng thịt đã được Thần Khí Thiên Chúa biến đổi, để quả tim đó có thể nhận ra được tình yêu Thiên Chúa mà vâng phục: “Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: ‘Hãy học cho biết Đức Chúa’, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (x. Gr 31, 34).

Giao ước mới này chính Chúa Kitô đã thiết lập và để lại cho chúng ta. Chính Ngài đã biến đổi quả tim của phận người. Vì Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa (x. Hr 1,3) và Người đã trở nên người phàm và cắm lều giữa chúng ta (x. Ga 1,14). Nên Người đã biến đổi quả tim nhân loại, uốn nắn nó theo nhịp đập của Thiên Chúa. Nói cách khác, Người mang lấy một quả tim nhân loại và làm cho nó biết yêu thương đến kỳ cùng. Đó là một trái tim nhân loại biết khóc: “Thấy cô khóc, và những người Do thái đi với cô cũng khóc, Đức Giêsu  thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu? “ Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giêsu  liền khóc (x. Ga 11,33-35). Cũng trái tim đó cũng khóc thương con thành Giêrusalem (x. Lc 19.41). Trái tim đó cũng biết buồn, thậm chí buồn đến chết được (x. Mt 26,38) và chính nó cũng không muốn phải ngừng đập: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu  đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết” (x. Hr 5,7).

Như vậy, một trái tim chai đá của con người đã được chính Thiên Chúa mang lấy và biến đổi nó. Mang lấy để chỉ cho con người thấy Thiên Chúa mà chưa ai được thấy bao giờ, một Thiên Chúa là tình yêu. Đức Giêsu còn đi xa hơn mức tình yêu tột đỉnh: “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (x. Ga 15,9.12-13). Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Chính nơi Đức Giêsu Kitô là hình ảnh toàn hảo của con người giống như hình ảnh Thiên Chúa, đúng theo kế hoạch tạo dựng. Vắn tắt, Đức Kitô mang lấy quả tim con người để nhân loại học theo nhịp đập của quả tim đó, nhịp đập của tình yêu.

Giao ước mới này là giao ước của con tim, một con tim của Đức Giêsu. Thánh Kinh cho chúng ta thấy ít là có một người đã được điều này: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không làm cho ân huệ của Thiên Chúa ra vô hiệu” (x. Gl 2,20-21).

Ông nọ bà kia làm được, tại sao tôi lại không? Chúng ta cũng đã được Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta. Nhờ Thánh Thần đó mà chúng ta nên nghĩa tử, để chúng ta có thể thân thưa lên rằng: Abba. Vì “Phàm những ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn đều là con Thiên Chúa” (x. Rm 8,14). Vì khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu , nghĩa là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người. Do được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Một đời sống làm con Thiên Chúa. Nhưng mỗi người chúng ta đây đã sống ra sao vai trò làm con này? Chúng ta có để cho sự chết và sống lại của Đức Giêsu Kitô phí hoài đi không? Câu trả lời xin dành lại cho từng người.

LỜI NGUYỆN TÍN HỮU

Trong bữa tối cuối cùng trước khi bị trao nộp, Đức Kitô đã truyền cho Hội Thánh mãi mãi cử hành nghi lễ tưởng niệm sự chết và sống lại của Người. Vậy chúng ta hãy thờ lạy Người và tha thiết nguyện xin :

Lạy Chúa, xin thánh hoá đoàn dân Chúa đã cứu chuộc.

  • Xin cho chúng con biết hãm mình ép xác để thông phần vào cuộc khổ hình của Chúa, hầu được cùng Chúa sống lại hiển vinh.
  • Xin cho chúng con được Thánh Mẫu Ma-ri-a là Đấng an ủi kẻ ưu phiền, luôn phù trì che chở, để lúc buồn sầu, chúng con được Người nâng đỡ, như chính Chúa hằng nâng đỡ chúng con.
  • Xin cho các tín hữu được chia sẻ những cực hình Chúa đã chịu, khi họ gặp thử thách gian truân, để cuộc đời họ biểu dương ơn cứu độ của Chúa.
  • Chúa đã tự hạ, sống phục tùng, đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá, xin cho các tín hữu cũng biết sống kiên nhẫn và phục tùng.
  • Xin cho những người đã chết được sống lại vinh quang như Chúa, và cho chúng con được hưởng vinh phúc ấy nữa.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cần sự trợ giúp của ơn Thánh Chúa, để được thanh luyện và lớn lên trong đức tin và đức ái. Xin soi sáng và nâng đỡ chúng con thi hành tốt mệnh lệnh sống bác ái, để hy lễ của Chúa diễn ra qua các thế kỷ vẫn mang đậm nét yêu thương, Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.